Việt Nam tiếp tục khẳng định vị thế là một trong những quốc gia xuất khẩu đồ gỗ hàng đầu thế giới. Trong cơ cấu kim ngạch xuất khẩu quốc gia, ngành gỗ vẫn duy trì vững chắc vị trí trong nhóm 10 mặt hàng chủ lực. Theo báo cáo mới nhất từ Tổng cục Hải quan, tính đến hết tháng 8/2025, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đã đạt mức kỷ lục 11,8 tỷ USD, tăng trưởng 12% so với cùng kỳ năm trước. Đây là minh chứng cho sự bứt phá mạnh mẽ của ngành gỗ Việt sau giai đoạn chuyển đổi số và thích ứng với các tiêu chuẩn xanh toàn cầu.
Trong đó, đồ gỗ mỹ nghệ – dòng sản phẩm cao cấp được quy định chặt chẽ về nguồn gốc – hiện là mặt hàng xuất khẩu chiến lược, chiếm lĩnh thị phần quan trọng tại các thị trường đòi hỏi khắt khe như Hoa Kỳ, Nhật Bản và EU. Theo dự báo từ Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST), kết thúc năm 2025, kim ngạch xuất khẩu toàn ngành có khả năng vượt mốc 17,5 tỷ USD. Các số liệu thực tế đến giữa tháng 4/2026 cho thấy xu hướng này vẫn đang giữ nhịp tăng trưởng ổn định nhờ việc tận dụng tốt các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
Tuy nhiên, trước sức hút từ lợi nhuận và sự tăng trưởng, việc gia nhập thị trường xuất khẩu gỗ mỹ nghệ năm 2026 không còn là bài toán đơn giản. Bên cạnh các rào cản thương mại truyền thống, doanh nghiệp hiện phải đối mặt với những quy định nghiêm ngặt về phát thải thấp (Net Zero) và quy định chống phá rừng của EU (EUDR). Do đặc thù là sản phẩm lâm nghiệp có giá trị cao, quy trình thủ tục hải quan và kiểm soát nguồn gốc gỗ theo Thông tư 26/2025/TT-BNNMT trở nên phức tạp hơn bao giờ hết.
Sản phẩm gỗ là một nhóm hàng đa dạng với nhiều danh mục khác nhau, trong đó đồ gỗ mỹ nghệ được xếp vào phân khúc giá trị cao và tiếp tục là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam duy trì vị thế là một trong những quốc gia xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ hàng đầu thế giới, với tỷ trọng lớn tập trung vào đồ nội thất và sản phẩm mỹ nghệ. Ngược lại, hàng gỗ nhập khẩu chủ yếu phục vụ nhu cầu nguyên liệu hoặc một phần nhỏ sản phẩm cao cấp.
Hoạt động xuất khẩu gỗ của Việt Nam hiện nay chủ yếu dựa trên nguồn nguyên liệu gỗ nhập khẩu kết hợp với gỗ rừng trồng trong nước, trong khi việc khai thác gỗ tự nhiên trong nước được kiểm soát chặt chẽ. Đối với sản phẩm gỗ mỹ nghệ và nội thất, yêu cầu về truy xuất nguồn gốc hợp pháp ngày càng khắt khe, không chỉ áp dụng cho thành phẩm mà còn kiểm soát từ nguyên liệu đầu vào. Các quy định pháp luật cũng phân loại rõ ràng giữa gỗ tự nhiên và gỗ công nghiệp (gỗ nhân tạo) trong quá trình sản xuất và thương mại.
Trong những năm gần đây, đặc biệt sau khi Việt Nam tham gia các hiệp định như EVFTA và thực thi VPA/FLEGT, thủ tục xuất nhập khẩu ngành gỗ đã được cải cách theo hướng minh bạch và thuận lợi hơn. Tuy nhiên, đi kèm với đó là yêu cầu tuân thủ nghiêm ngặt về tính hợp pháp của gỗ, hồ sơ lâm sản và hệ thống kiểm soát chuỗi cung ứng.
Hiện nay, việc quản lý và kiểm định sản phẩm gỗ vẫn thuộc thẩm quyền của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, với trọng tâm là đảm bảo nguồn gốc hợp pháp, bảo vệ tài nguyên rừng và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế trong xuất khẩu
Về trước hết, đối với các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu gỗ, doanh nghiệp sẽ cần phải đáp ứng được các yêu cầu sau theo Nghị định 102/2020/NĐ-CP quy định Hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp Việt Nam được ban hành ngày 1/9/2020:
Đối với việc nhập khẩu gỗ nguyên liệu, theo điều 4 của Nghị định, quy định chung về quản lý gỗ nhập khẩu:
Đối với gỗ xuất khẩu, quy định chung của pháp luật quy định tại Điều 8 của Nghị định, quy định chung về quản lý gỗ xuất khẩu, chính phủ yêu cầu gỗ xuất khẩu phải đáp ứng các yêu cầu sau:
Về hồ sơ gỗ nhập khẩu, gỗ xuất khẩu được nêu tại Điều 7 và Điều 10 của Nghị định 102/2020/NĐ-CP. Quy định cụ thể như sau:
Khi làm thủ tục Hải quan đối với lô hàng gỗ nhập khẩu, xuất khẩu, ngoài bộ hồ sơ Hải quan theo quy định của pháp luật về Hải quan, chủ gỗ phải nộp cho cơ quan Hải quan nơi đăng ký tờ khai một trong các chứng từ sau:
Đối với gỗ nhập khẩu:
Đối với gỗ xuất khẩu:
Một điểm quan trọng mà các doanh nghiệp xuất khẩu gỗ cần lưu ý, đó là Khoản 1 Điều 17 Thông tư 01/2012/TT-BNNPTNT ban hành vào ngày 04/01/2012. Theo đó quy định các doanh nghiệp xuất khẩu gỗ có nguồn gốc gỗ tự nhiên ngoài hồ sơ hải quan cần phải trình thêm các hồ sơ lâm sản hợp pháp. Trong đó những trường hợp sau cần đặc biệt lưu ý:
Trong trường hợp mua từ nhà máy chế biến gỗ trong nước, những giấy tờ sau bắt buộc phải có:
Trong trường hợp mua từ người nông dân:
Trong trường hợp nhập gỗ nguyên liệu từ nước ngoài với đồ gỗ tự nhiên có nguồn gốc được nhập khẩu từ nước ngoài, sau khi sản xuất/gia công thành các mặt hàng như: bàn, ghế, tủ, vv, và được xuất khẩu những mặt hàng này, doanh nghiệp cần nộp:
Đối với mặt hàng gỗ có nguồn gốc công nghiệp như: MCF và MDF, doanh nghiệp cần tuân thủ các điều khoản được quy định tại Thông tư 38/2015/TT-BTC Cần lưu ý mặt hàng này không nằm trong danh mục cấm xuất khẩu hàng hóa theo quy định hiện hành.
Để làm thủ tục xuất khẩu gỗ công nghiệp, doanh nghiệp sẽ cần những loại chứng từ sau: